Trang B phiên tả
Đây là bài pháp thoại
HT. Thích Nhất Hạnh giảng vào ngày 26 tháng 12 năm 2010 tại chùa Pháp Vân, xóm Thượng,
Làng Mai, trong khóa tu mùa Đông.
Hôm
trước chúng ta đã nghe bài pháp thoại nói về quê hương đích thực. Trong chúng
ta có những người đã tìm thấy ngôi nhà đích thực của mình, nhưng cũng có người
vẫn còn đang đi tìm kiếm. Chúng ta biết quê hương đích thực nằm trong mỗi con người
mình và năng lượng chánh niệm giúp ta trở về với quê hương đích thực ngay bây
giờ và ở đây. Tăng thân là ngôi nhà, là quê hương đích thực của mình.
Xây
dựng ngôi nhà đích thực
Tại
Làng Mai, khi nghe tiếng chuông chúng ta dừng lại những suy nghĩ, nói năng và
hành động. Chúng ta trở về chú tâm vào hơi thở vào và hơi thở ra:
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe
Tiếng chuông huyền
diệu đưa về quê hương
Ngôi
nhà đích thực có trong tôi, bây giờ và ở đây. Mình thực tập trở về ngôi nhà đó
trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày tại vì mình chỉ thật sự cảm thấy thoải
mái khi về nơi đó. Ngôi nhà đó luôn có mặt cho mình, vấn đề là mình có muốn và
có biết cách trở về ngôi nhà đó không? Mình có thể trở về ngôi nhà quê hương bất
cứ lúc nào. Ngôi nhà đó an toàn, thân thiết và thoải mái và chính mình phải làm
cho ngôi nhà trở nên thoải mái và an toàn.
Tuần
rồi tôi có gặp một cặp vợ chồng tới từ nước Anh. Họ tới Làng Mai tu tập hai tuần
ở xóm Thượng. Bà vợ nói: “Lạ quá, lần này tôi ở trong một xóm có cả trăm người
đàn ông, mà sao tôi lại cảm thấy rất an toàn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy an toàn
như vậy!” Ở xóm Thượng chỉ toàn là đàn ông và bà là người đàn bà duy nhất ở đó.
Nếu bà cảm thấy an toàn thì nơi đó chính là nhà của bà tại vì nhà phải cho mình
được cái cảm giác an toàn. Mình có đủ an toàn cho người kia không? Mình có đủ vững
chãi để che chở, bảo hộ cho người mình thương hay không? Ông chồng cũng chia sẻ
hai tuần qua là hai tuần hạnh phúc nhất trong đời ông.
Đó
là công việc xây dựng tăng thân, xây dựng tăng thân là xây dựng ngôi nhà cho
mình, nơi mà mình cảm thấy thoải mái, an toàn. Nếu mình không cảm thấy an toàn
trong chính mình thì mình không phải là ngôi nhà cho chính mình và cũng không hiến
tặng được một ngôi nhà cho người mình thương. Mình phải trở về chính mình, làm cho
mình trở nên an toàn cho chính mình và cho người mình thương.
Nếu
cảm thấy cô đơn, bơ vơ, đau khổ thì mình đừng bao giờ nghĩ rằng mình có thể tìm
được an ủi trong sự liên hệ tình dục với người kia. Nó chẳng những không chữa
lành được vết thương của mình mà còn tạo ra thêm đau khổ cho mình và cho người
kia. Giới thứ ba của Năm giới nhắc nhở mình rằng sự thèm khát tình dục không phải
là tình yêu, mà không có tình yêu thì sự liên hệ tình dục chỉ đem lại đau khổ
cho mình và cho người kia. Mình không thể nào khỏa lấp được sự cô đơn và chữa lành
vết thương của mình bằng tình dục. Mình phải học cách tự chữa trị cho mình, làm
cho tự thân mình được thoải mái, làm một ngôi nhà đích thực cho mình, có được một
ngôi nhà thì mình có gì để hiến tặng cho người kia. Và người kia cũng phải làm
như mình, người kia cũng phải tự chữa lành vết thương, xây dựng một ngôi nhà
trong tự thân, trở nên thoải mái và có thể hiến tặng cho mình một ngôi nhà. Nếu
không thì người kia chỉ có thể hiến tặng cho mình sự cô đơn và khổ đau mà thôi.
Nhận
diện và lắng nghe nỗi khổ niềm đau trong tự thân
Chúng
ta biết có ba loại gần gũi: sự gần gũi về thân thể, sự gần gũi về tình cảm và sự
gần gũi về tinh thần hay tâm linh. Sự gần gũi thân thể không thể tách rời khỏi
sự gần gũi tình cảm. Hai sự gần gũi này phải đi
đôi với nhau và nếu sự gần gũi tâm linh có mặt thì hai sư gần gũi kia sẽ có thực
chất và có tính cách lành mạnh, chữa trị, nếu không thì nó sẽ có tính cách tàn
phá, hủy diệt. Nhiều người trong chúng ta đi tìm sự gần gũi tình cảm, nhưng
trong liên hệ tình cảm phải có sự hài hòa, có sự truyền thông và hiểu biết.
Trong
sự thực tập đạo Bụt chúng ta học cách nhận diện khổ đau trong mình và nhận diện
khổ đau trong người kia. Nếu không lắng nghe được khổ đau của chính mình thì
mình sẽ không hiểu và không thương được chính mình, mà tình thương là chất liệu
để tự chữa trị mình. Điều Bụt dạy đầu tiên là nhận diện khổ đau của tự thân nhưng
phần lớn trong chúng ta đều có khuynh hướng
chạy trốn khổ đau và tìm cách khỏa lấp khổ đau bằng sự tiêu thụ: tiêu thụ
thực phẩm, tiêu thụ âm nhạc, tiêu thụ nhiều thứ và tiêu thụ cả tình dục. Vì vậy
cho nên Bụt dạy chúng ta nên trở về với tự thân để nhận diện và lắng nghe khổ
đau trong mình. Mình đã học cách thở trong chánh niệm, mình có thể nâng cao phẩm
chất của hơi thở vào và hơi thở ra, làm cho hơi thở vào và hơi thở ra trở nên sâu
hơn, chậm hơn, bình an hơn. Mình để cho
thân thể buông thư và giúp cho cảm thọ lắng dịu xuống. Đó là phương pháp thực tập
của Bụt dạy để chúng ta có khả năng trở về với tự thân mà không còn căn thẳng và sợ hãi. Mình rất sợ trở về
với chính mình tại vì mình sợ bị tràn ngập bởi cái khối khổ đau trong mình và
mình có khuynh hướng trốn chạy cái khối khổ đau đó bằng sự tiêu thụ. Đôi khi
mình ăn hay mình gọi điện thoại chỉ để khỏa lấp khổ đau trong mình mà thị trường
bên ngoài thì cung cấp mọi sản phẩm tiêu thụ để người ta trốn chạy khổ đau.
Bụt
khuyên mình nên sử dụng năng lượng chánh niệm chế tác được bằng hơi thở, bằng bước
chân để nhận diện khổ đau trong mình và ôm ấp khổ đau đó với tình thương của
mình: “Khổ đau của ta ơi, ta biết mi có đó, ta đang có mặt ở nhà đây và ta sẽ
chăm sóc cho mi”. Mình lắng nghe khổ đau trong mình, khổ đau đó có thể được
trao truyền từ cha mẹ, từ tổ tiên nhiều đời. Đôi khi mình đau khổ mà không hiểu
tại sao mình đau khổ, mình không hiểu được bản chất của khổ đau đó. Muốn hiểu được
thì mình phải trở về nhận diện và ôm ấp khổ đau. Cha mẹ, tổ tiên mình không có
cơ hội chuyển hóa khổ đau của họ và đã trao truyền khổ đau đó cho mình. Bây giờ
đây mình có cơ hội được học giáo pháp, mình học được học cách nhận diện, ôm ấp
và chuyển hóa khổ đau, mình thực tập cho mình, cho cha mẹ và cho tổ tiên: “Thưa
tổ tiên, thưa cha mẹ, con đã nhận khối khổ đau này từ các vị. Con sẽ cố gắng hết
sức của con. Con đã được học giáo pháp, con đã có pháp môn, con biết cách nhận
diện khối khổ đau được trao truyền, với tình thương con xin nhận lãnh và tìm
cách chuyển hóa khối khổ đau đó.” Quí vị có thể làm với tình thương, làm cho
cha mẹ, làm cho tổ tiên. Mình không chỉ thực tập cho mình mà mình thực tập cho
cả tổ tiên tại vì mình cũng chính là tổ tiên.
Theo
giáo lý Tứ diệu đế, nếu mình không lắng nghe và nhìn sâu vào bản chất của khổ
đau trong mình, nếu mình không ôm ấp khổ đau đó với tình thương và năng lượng của
chánh niệm thì mình sẽ không hiểu được gốc rễ của khổ đau. Hiểu được gốc rễ của
khổ đau trong mình thì năng lượng của hiểu và thương sẽ ứa ra từ trái tim mình. Năng lượng của hiểu và thương
có công năng trị liệu. Nhờ ôm ấp và lắng nghe khổ đau của chính mình mà mình có
thể chế tác được hiểu và thương, tình thương được sinh ra từ sự hiểu biết. Khi
chất liệu thương yêu được chế tác thì mình bớt khổ rất nhiều, mình cảm thấy êm
dịu lại, mình cảm thấy có sự ấm áp và mình đang xây dựng một ngôi nhà trong tự
thân của mình. Bụt dạy mình nên xây dựng một ngôi nhà trong tự thân: “Hãy là một
hải đảo tự thân, hãy xây dựng một hải đảo trong tự thân!” Mình sẽ thấy ấm áp,
thoải mái và mình có thể làm chỗ nương tựa cho những người khác.
Hiểu
được sự cô đơn của mình thì mình sẽ nhẹ hơn và có khả năng hiểu được nỗi khổ niềm
đau của người khác dễ dàng hơn. Trong khổ đau của mình có khổ đau của tổ tiên
dòng họ, khổ đau của mình phản chiếu khổ đau của xã hội. Khổ đau tương tức, khổ
đau của tôi cũng là khổ đau của anh và khổ đau của anh cũng là khổ đau của tôi.
Nếu tôi hiểu được khổ đau của tôi thì tôi sẽ hiểu được khổ đau của anh dễ dàng
hơn. Hiểu biết là một thứ quà tặng, hiểu được nỗi khổ niềm đau của một người là
một món quà lớn mình có thể tặng cho người đó. Lần đầu tiên người đó có cảm tưởng
có người hiểu được mình. Hiểu cũng là thương, hiểu biết là một tên khác của
tình thương tại vì nếu không hiểu được thì cũng không thương được. Cha không hiểu
con thì cha không thể thương được con, con không hiểu cha thì con không thương
được cha. Hiểu biết là tình thương, hiến tặng sự hiểu biết là hiến tặng tình thương
mà mình không thể nào hiểu được người khác nếu mình không hiểu được chính mình.
Mình
bắt đầu xây dựng ngôi nhà của chính mình và người kia sẽ tới tham gia với mình
trong công việc xây dựng đó. Sau đó mình có thể gọi người kia là “nhà tôi” và
người kia cũng có thể gọi mình là “nhà tôi”. Ở xóm Thượng, tăng thân là nhà của
mình thì về gia đình cũng có thể biến những thành phần trong gia đình thành những
thành phần trong tăng thân tại vì gia đình cũng là một tăng thân. Một gia đình
có hai người là một tăng thân nhỏ nhất, gia đình ba người là một tăng thân có
ba thành viên, gia đình bốn người là một tăng thân có bốn thành viên. Gia đình
là ngôi nhà của mình. Xây dựng gia đình cũng giống như xây dựng tăng thân, giáo
pháp của Bụt đã dạy mình phương pháp xây dựng tăng thân. Tăng thân là chỗ nương
tựa cho mình và cho nhiều người, vì vậy việc làm cao quí nhất là xây dựng tăng
thân. Sau khi giác ngộ công việc đầu tiên Bụt làm là tìm cách xây dựng một tăng
thân.
Ba
loại gần gũi (thân thể, tình cảm và tâm linh) tương tức
Mình
quay về tự thân, lắng nghe niềm đau nỗi khổ trong tự thân, ôm ấp những đau nhức,
lo lắng, cô đơn của mình bằng năng lượng của chánh niệm và tuệ giác sẽ giúp cho
mình chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau trong mình. Mình tạo ra được một cảm giác
ấm áp, bình an cho mình và cho người kia. Nếu người kia hợp tác với mình để xây
dựng ngôi nhà thì mình đang giúp cho người kia và người kia cũng đang giúp cho
mình. Mình và người kia đều có một ngôi nhà, ngôi nhà trong chính mình và trong
người kia.
Nếu
không có sự gần gũi lành mạnh đó thì sự gần gũi về thân thể sẽ gây ra rất nhiều
đổ vỡ. Vì vậy mình không thể tách rời sự gần gũi thân thể ra khỏi sự gần gũi
tình cảm mà sự gần gũi vể tình cảm có dính líu tới sự gần gũi về tâm linh. Tâm
linh ở đây không chỉ có nghĩa là niềm tin vào một giáo pháp mà là sự thực tập,
thực tập thì luôn đem lại sự lắng dịu, sự truyền thông và sự chuyển hóa. Cái
chúng ta cần là một chiều sâu tâm linh trong đời sống hàng ngày, không có chiều
sâu tâm linh thì mình không thể đương đầu với những khó khăn trong đời sống
hàng ngày. Chúng ta phải có một đời sống tâm linh, phải có một con đường, phải có
pháp môn và sử dụng pháp môn để thực tập. Có sự thực tập giáo pháp, có pháp
thân thì mình không còn sợ hãi và mình có thể đối diện với những khó khăn gặp
phải trong đời sống hàng ngày.
Mình
có hình hài tức nhục thân nhưng mình cũng có pháp thân trong mình, pháp thân đó
là sự thực tập giáo pháp, là đời sống tâm linh của mình. Có pháp thân thì mình
không còn sợ hãi, mình biết mình có thể vượt qua được những hoàn cảnh khó khăn.
Thực tập thở, thực tập đi, thực tập nhìn sâu rất quan trọng. Sự thực tập giúp
chúng ta rất nhiều trong việc xử lý những cảm thọ, giúp ta lắng nghe và ôm ấp nỗi
khổ niềm đau của chính mình, nhận diện và ôm ấp được nỗi khổ niềm đau của người
kia. Vì vậy cho nên hai loại gần gũi, tình cảm và tâm linh, tương tức. Mình biết
cách xử lý những tâm hành tiêu cực như sợ hãi, giận hờn, tuyệt vọng và mình cảm
thấy bình an hơn. Sự thực tập tâm linh giúp mình xây dựng một ngôi nhà trong tự
thân cho mình và người kia được an toàn. Vì vậy sự gần gũi về tình cảm không thể
nào tách rời khỏi sự gần gũi về tâm linh và ba loại gần gũi, thân thể, tình cảm
và tâm linh, tương tức.
Tình
yêu chân thật phải được xây dựng trên sự hiểu biết
Giới
thứ ba của năm giới cho chúng ta biết: tình dục không phải là tình yêu. Liên hệ
tình dục mà không có tình yêu là tình dục trống rỗng. Tình dục trống rỗng rất
thịnh hành trong xã hội của chúng ta ngày nay và đã gây ra không biết bao nhiêu
là đổ vỡ nhất là cho những người trẻ. Là cha mẹ, là thầy cô giáo mình phải giúp
cho con mình, cho học trò mình thấy được điều đó tại vì người trẻ bây giờ thường
chạy theo tình dục trống rỗng. Nó tàn phá thân tâm của họ, nó gây ra nhiều thiệt
hại cho họ như bệnh trầm cảm, bệnh rối loạn tâm thần. Nhiều người trẻ không biết
rằng bệnh rối loạn tâm thần có liên quan tới tình dục trống rỗng hay có liên
quan tới sự lạm dụng tình dục. Họ không thấy được sự liên quan giữa tình dục và
bệnh rối loạn trong thân tâm của họ.
Nhà
văn Pearl Buck có viết một cuốn tiểu thuyết tên “Gió đông gió tây” (East wind
west wind) trong đó có tả một cặp vợ chồng ở Trung Quốc cách đây khoảng 100
năm. Hai vợ chồng đều là con nhà gia thế, người chồng trẻ đi sang nước Mỹ du học
và đậu được bằng bác sĩ y khoa. Anh ta trở về Trung Quốc hành nghề bác sĩ, nhưng
cô vợ thì được giáo dục theo lối truyền thống. Theo truyền thống thì chức vụ của
người đàn bà là làm mẹ, làm vợ để phục vụ người chồng. Người vợ phải phục tùng
người chồng 100%. Người chồng là chủ nhân trong nhà, người vợ phải học nấu ăn,
phải làm tất cả để thỏa mãn nhu cầu của người chồng. Đó là truyền thống của xã
hội Trung Hoa thời xưa. Nhưng anh chồng thì được tiếp thu lối giáo dục của Tây
phương và muốn coi vợ ngang hàng với
mình. Sau đám cưới, khi hai người còn lại một mình với nhau, việc đầu tiên mà
anh chồng làm là giở khăn che ra để nhìn mặt vợ. Cô vợ rất sợ hãi, cô không biết
phải làm gì tại vì cô đã được mẹ dạy là phải im lặng.
Đêm hôm ấy, sau khi
hôn lễ và tiệc vui chấm dứt, tôi ngồi một mình trên giường trong phòng hoa chúc.
Người tôi cứng ngắc vì sợ, giờ phút mà tôi tưởng tượng và trông đợi cả đời đã tới,
giờ phút mà chồng tôi nhìn vào mặt tôi lần đầu tiên và chúng tôi chỉ còn lại một
mình với nhau. Hai bàn tay tôi lạnh ngắc nắm chặt với nhau và đặt trên hai chân
. Lúc ấy chồng tôi đi vào, dáng chàng cao lớn và oai nghi trong bộ y phục màu
đen, chàng tới gần tôi, yên lặng giở tấm khăn che và nhìn thật lâu vào mặt tôi.
Chàng nắm lấy bàn tay lạnh giá của tôi. Tuệ giác của mẹ dạy tôi là phải yên lặng
và đừng quá nồng nhiệt, phải là vị cay của rượu hơn là vị ngọt của mật và như
thế thì chồng mình sẽ không bao giờ nhàm chán mình. Vì vậy tôi ngần ngừ khi đưa
tay cho chàng nắm, nhưng chàng rút tay về và nhìn tôi thật lâu. Rồi chàng bắt đầu
nói bằng một giọng nghiêm nghị. Lúc đầu tôi không hiểu được những chữ chàng nói
vì tôi còn bận nghe giọng nói của chàng vang vang trong tai tôi, một giọng nói
trầm trầm khiến cả người tôi nổi gai:
“Không ai có thể bắt
em đến với tôi, một người mà em vừa thấy lần đầu tiên, và tôi cũng thế. Chúng
ta bị ép vào cuộc hôn nhân này. Cho đến bây giờ chúng ta đã tuân theo lệnh
trên, nhưng từ nay chỉ còn hai chúng ta thôi, chúng ta có thể tổ chức đời sống
của mình theo cách mình muốn. Riêng tôi, tôi sẽ đi theo con đường mới. tôi muốn
đối xử với em như một người ngang hàng, tôi sẽ không bắt buộc em làm bất cứ điều
gì. Em không phải là vật sở hữu của tôi cũng không phải là cái bóng của tôi. Em
có thể là bạn của tôi nếu em muốn.”
Đó là những lời tôi
đã nghe trong đêm đó. Lúc đầu thì tôi rất ngạc nhiên nên không hiểu gì cả. Tôi
ngang hàng với chàng à? Tại sao lại ngang hàng? Tôi không phải là vợ chàng hay
sao? Không phải chàng là người sai bảo tôi thì là ai đây? Chàng không phải là
chủ nhân của tôi theo luật lệ hay sao? Đâu có ai bắt tôi phải lấy chàng? Tôi phải
làm gì nếu không có chồng? Và làm sao mà tôi có chồng cho được nếu cha mẹ tôi
không dàn xếp trước. Tôi để hai tay lên chân, không dám nói một lời, không biết
phải trả lời như thế nào. Chàng đặt tay chàng lên hai tay tôi và hai chúng tôi
im lặng một lát. Tôi chỉ ước gì chàng rút tay lại. Cuối cùng chàng nói nhỏ bằng
một giọng chua xót: “Thật đúng như điều tôi lo sợ. Em không muốn và không thể
nói ra được với tôi cảm nghĩ của em. Em không dám dứt khoát với những gì em đã
được dạy bảo. Vậy thì em cứ nghe tôi nói và tôi không bắt em phải trả lời. Tôi
chỉ xin em một điều, nếu em bằng lòng đi thử cùng với tôi trên con đường mới
thì em hãy cúi đầu xuống một chút.”
Chàng nhìn tôi thật
sát, tôi cảm thấy tay chàng đè nặng lên hai tay tôi. Đây là nghĩa lý gì? Tại
sao mọi việc lại không diễn tiến theo đường hướng đã dự định? Tôi đã sẵn sàng
làm vợ của chàng, tôi muốn trở thành mẹ của những đứa con trai. Ôi, nỗi buồn
phiền của tôi bắt đầu và sẽ theo sát tôi suốt ngày đêm. Tôi không biết làm phải
làm sao, trong sự tuyệt vọng và sự ngu si tôi cúi đầu xuống.
“Tôi cảm ơn em”,
chàng nói. Rồi chàng rút tay lại, đứng thẳng lên nói: “Em hãy ở trong phòng này
và hãy nhớ rằng từ rày trở đi em không cần phải lo sợ gì cả. Tối nay tôi sẽ ngủ
trong căn phòng nhỏ kế bên”. Rồi chàng quay nhanh người bước ra ngoài.
Đó
là chuyện xẩy ra trong đêm đó.
Tôi chạy ra cửa, trong
sự hốt hoảng tôi nghĩ mình sẽ chạy về nhà với mẹ nhưng bàn tay tôi chạm vào
thanh sắt làm tôi nhớ lại rằng không bao giờ tôi có thể trở về. Nếu có phép lạ
nào khiến cho tôi thoát khỏi được ngôi nhà mới này thì ngoài kia còn có bao
nhiêu là con đường lạ, và nếu tôi có thể về tới nhà thì cổng nhà cũng không mở
để đón tôi vào.
Không
hiểu nhau nhưng đôi vợ chồng cũng sống chung với nhau trong vài tháng và hai
bên phải cố gắng tìm hiểu nhau. Một hôm hai người dọn vào sống trong một căn
phòng trên lầu. Cô vợ rất sợ phải leo lầu vì chân của cô bị bó theo phong tục của
người Trung quốc và cô bước đi rất yếu. Bữa
nọ
người chồng lấy bút vẽ cho vợ xem xương bàn chân của cô và nói: “Chân của em
không đẹp tại vì nó không lành mạnh!” Nghe vậy cô vợ rất đau khổ tại vì cô đã tốn
bao nhiêu công sức để có bàn chân như thế này mà bây giờ chồng cô lại chê chân
cô không đẹp. Thời gian sau, khi có dịp về nhà thăm mẹ, cô đã kể cho mẹ sự chán
nản, buồn tủi của mình. Mẹ cô khuyên: Có lẽ con nên làm theo chồng con. Thời đại
đã thay đổi thì con cũng có thể tháo chân ra.” Cô đã trải qua bao nhiêu khổ sở
khi quyết định tháo chân ra và chồng cô đã giúp cho cô. Hai người đã để ra nhiều
tháng tìm hiểu nhau, tìm hiểu về văn hóa, về sự suy tư và về nguyện vọng của
nhau. Khi hiểu nhau được thì tình yêu nẩy sinh và họ trở thành một cặp vợ chồng
rất hạnh phúc.
Trong
câu chuyện này, chúng ta thấy người chồng không muốn có sự gần gũi về thân thể
với vợ cho tới khi hai người hiểu được nhau và tin tưởng nhau. Người chồng thấy
rằng nếu không có sự hiểu biết thì sự liên hệ tình dục sẽ không đem lại hạnh
phúc chân thật và sẽ gây ra đổ vỡ. Anh chồng không phải là Phật tử và cô vợ
cũng vậy nhưng họ đã làm được.
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét