Quảng Thông
ĐI TÌM SỰ
SỐNG
Với
thiên nhiên, có lẽ chúng
ta sẽ nghĩ đến tình yêu nhiều hơn, bởi
tình yêu là một cái gì đó
được cảm nhận một
cách trực tiếp và nói đến tình yêu là chúng ta đã đi
vào lĩnh vực của trái tim, không còn ở trên bình diện trí năng nữa. Đó là những gì rung động từ trái tim, hòa điệu
và sống động hơn xuất
phát từ bản chất của
nó. Chúng ta đã nói đến
trí năng quá nhiều, đã
quá coi trọng sự suy nghiệm của não bộ,
đã làm cho tâm trí chúng ta trở
nên nặng nề. Nó là hiện thân của nền văn hóa mang nặng
lý tính, thích diễn đạt ý tưởng của
mình theo chủ trương lôgic; anh phải nói một cái gì, phải
trừu tượng hóa hay trí thức hóa cái kinh nghiệm cụ thể
của mình. Thậm chí còn muốn đem tình cảm ra phân tích hết thảy để
xem nó chứa đựng những gì.
Tinh thần
muốn phân tích, muốn tìm hiểu hiện tượng
giới này được gọi là khách quan khoa học. Nghĩa là đứng
tách rời khỏi những đối
tượng cần nghiên cứu. Phân chia và diễn dịch những
quan niệm, phân biệt các hoạt chất, nghiên cứu
và chinh phục thế giới tự
nhiên. Theo cách này, con người
đã đạt được những sự
hiểu biết, những tiến
bộ, những tiện nghi vật
chất và người ta đã say sưa với nó, nhưng
bên cạnh những thành tựu đó, nó cũng hàm chứa những mặt
trái mà chúng ta có thể
thấy trong thế giới hiện
đại. Nó để lại những
tai hại cho môi trường, và ảnh hưởng không nhỏ
đến sự sống còn của
những sinh vật trên trái đất. Điều đáng chú ý hơn
hết là với đầu óc khoa học,
áp dụng những hiểu biết
về khoa học của mình để
phát minh tất cả những máy móc cơ
giới để nâng cao mức sống và để
tự giải thoát khỏi lao động tay chân mà chúng ta ngày nay vẫn cho là vất vả và vô ích. Nhưng
cơ giới cũng sẽ dễ dàng đưa
tới cơ tâm và con người đã bắt đầu
ra sức khai thác những tài nguyên từ thiên nhiên với những phương
tiện kỹ thuật do chính mình tạo
ra, và từ đó vô số các vấn đề
xã hội nảy sinh đi kèm với sự suy thoái về
đạo đức.
Sự sống luôn luôn là một sự liên hệ
mật thiết giữa nhiều
yếu tố, những hiện
hữu và biến diệt của
vạn vật đều có sự
tương quan mật thiết với
nhau. Những biểu hiện của
thế giới ngày nay cho chúng ta thấy, sự liên hệ
trong thế giới bây giờ không còn là vấn đề của
những quốc gia riêng biệt mà là sự liên hệ có tính quốc
tế. Sự an sinh của toàn nhân loại trở lại
ràng buộc tất cả những
phần tử nhỏ khác như
một tế bào của một
cơ thể sống. Cũng như
chúng ta có cảm tưởng là sâu bọ bị giết
chết ở ngoài đồng không có liên hệ tới vấn
đề tồn tại của
thế giới từ vấn
đề đói no, cho đến chiến tranh và hòa bình. Nhưng kỳ thực,
nó có liên hệ mật thiết với
nhau rất chặt chẽ. Thuốc
trừ sâu được phun xuống ruộng đồng
để nâng cao năng suất cây lương thực
nhằm giải quyết vấn
đề đói no của con người, nó kéo theo vô số những vấn
đề khác, nhất là vấn đề
về môi trường sinh thái và sức khỏe của
chính cộng đồng nhân loại. Đó là một thực tế
mà chúng ta không thể phủ nhận và tảng
lờ. Mối quan tâm này cũng đã trở thành mối quan tâm của nhiều người
và nó là gì nếu không xuất phát từ tình yêu, tình yêu cuộc sống.
Quá trình trao đổi
chất diễn ra từng phút từng
giây giữa những sinh vật sống và môi trường.
Nếu không có sự đổi trao đó thì không có sự sống.
Nước, không khí, năng lượng mặt trời,
tất cả đều liên hệ
mật thiết với con người.
Đó là mối liên hệ chằng chịt
của nhiều điều kiện.
Trong sự tương quan nhân duyên nhiều tầng nhiều
lớp này cuối cùng không có một sự vật
nào đứng vững mà tách biệt với những
sự vật khác. Cái một góp mặt để
tạo nên tất cả và đồng
thời, cái tất cả cũng có mặt
và làm nên cái một. Mỗi phút mỗi giây trong bất cứ một
hiện tượng nào cũng có sự chuyển biến
đổi thay để có thể có được
sự sống. Nó là một tiến trình vận
động. Sự vận động
trong hệ thống mà trong đó các phẩm tính chủ yếu của
một sinh vật hay một sinh hệ
là phẩm tính của toàn thể mà không cấu phần nào của
hệ có được (theo thuyết hệ thống,
systems theory).
Thiên nhiên là môi trường
sống của tất cả
các loài sinh vật, cho
nên, tôn trọng sự trong sạch, sự lành mạnh
của thiên nhiên là tôn trọng sự sống
của mọi loài chúng sanh, trong đó có
chúng ta. Con người ta dù
làm bất cứ một điều
gì cũng chỉ để mưu cầu
hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc ấy
có thực hay không còn tùy
vào nhận thức của mỗi
người. Mưu cầu hạnh
phúc cá nhân và chỉ biết đến lợi
ích của bản thân, thì nó chỉ là cái bóng và càng đuổi bắt càng mỏi
mệt mà không bao giờ đạt đến
được. ‘Cái tôi là cái
đáng ghét’, người xưa đã thốt lên một
cách phẫn nộ như thế
đấy. Tuy nhiên quan tâm đến bản thân vẫn
là yếu tố đầu tiên để
có được sự quan tâm đối với tha nhân và trong sự thể
này việc quan tâm đến mình đồng thời với
việc quan tâm đến người khác và ngược
lại. Nó luôn ở trong thế hỗ tương
tùy thuộc vào nhau.
Khoa học
kỹ thuật là sự tiến
bộ tất yếu, nhưng
sự tiến bộ đó đôi khi lại
đi ngược với quá trình vận động của
sự sống. Sự lầm
lẫn này đã phát xuất từ khái niệm
phân biệt về cái tôi (ngã), về nhân loại độc tôn (nhân), các loài sinh vật khác (chúng sanh) và các loại khoáng chất, cho rằng chúng tồn tại độc
lập với nhau, không có liên hệ gì với nhau. Khoa học
luôn lấy đối tượng nghiên cứu
của mình là thế giới tự
nhiên và tôn trọng tính
khách quan của quá trình
nghiên cứu. Hay nói cách
khác đó là sự tách ly giữa cái tôi và thế giới còn lại.
Nỗ lực của khoa học
là tìm hiểu vạn vật, chinh phục
nó và bắt nó trở thành những phương tiện
phục vụ đời sống
con người. Nhưng những nỗ
lực đó đã tạo ra không ít những tai ương cho những
loài chúng sanh khác cũng như
thế giới tự nhiên và hậu
quả thì chính con người phải gánh chịu.
Chúng ta không chống đối sự tiến
bộ của khoa học, nhưng cùng với
sự thông minh của mình, con người tìm cách để hiểu sâu hơn
sự vận hành của thiên nhiên từ đó có được một thái độ
sống hài hòa thực sự để
duy trì sự sống và tiến bộ. Tiến
bộ không đồng nghĩa với sự tiến
dần đến cái chết. Điều này chúng ta có thể có nhiều
hy vọng khi nền khoa học ngày nay đã bắt đầu thấy
được tính tương tức của
các pháp và quan tâm hơn
tới những lĩnh vực khác ngoài thế giới vật
chất.
Trong nền
vật lý mới, vật lý nguyên tử,
người ta đã thấy được mối
liên hệ không thể tách rời của
các hạt cơ bản. Muốn
hiểu được bản chất
của một hạt cơ
bản, người ta phải đặt nó trong mọi
mối liên hệ của toàn thể
vũ trụ, kể cả tâm thức
của người quan sát. Ở đây, người ta phủ định luôn cả
những đơn vị gọi
là cơ bản- không có hằng số cơ
bản, định luật hay phương
trình. Vũ trụ vật chất chỉ
được xem là một mạng lưới
gồm các biến cố tác động
lên nhau. Không có tính chất
nào của bất cứ thành phần
riêng biệt nào của mạng lưới
là cơ bản; tất cả
chúng đều tuân thủ các tính chất của toàn thể
các thành phần khác, và sự dung thông ăn khớp toàn bộ của những
mối liên hệ chằng chịt
của chúng là nhân tố xác định cấu
trúc của toàn mạng lưới. Không thể
hiểu được tính chất của một
thành phần nếu tách rời nó ra khỏi những liên hệ
với toàn thể.
Như thế, việc tìm hiểu
bản chất của vũ trụ
là tìm hiểu trong cái
toàn thể không thể phân tách và vai trò của ý thức đã nổi
lên trong mối quan hệ với sự
quan sát các hiện tượng vật lý. Thuyết
lượng tử đã chỉ rõ rằng
những hiện tượng này chỉ
được hiểu như là mỗi
mắt xích của một chuỗi
tiến trình, mà khâu cuối cùng của chúng nằm nơi ý thức
của người quan sát. Khoa học gia Eugene Wigner phát biểu,“không thể phát biểu định luật
(của thuyết lượng tử)
trong một cách hoàn toàn
nhất quán nếu không dựa vào ý thức.” Có thể nói rằng sự
bao gồm trọn vẹn ý thức
con người có thể là một khía cạnh
chủ yếu của những
thuyết về vật chất
trong tương lai. Đó là nhận thức cần
thiết để có sự thay đổi
trong hành động, thay đổi từ ý định
ngự trị và điều khiển
thiên nhiên đến một thái độ hợp tác và bất
bạo động. Đây là một thay đổi theo chiều hướng tâm linh.
Cảm Nhận Thiên Nhiên
Càng rời
xa thiên nhiên tâm tánh con người
ngày càng trở nên hỗn loạn và bạo
động. Sự hài hòa, thanh thoát của thiên nhiên sẽ giúp chúng ta xua tan những phiền não: xôn xao và lo âu làm cho tâm hồn yên lắng trở
lại. Sự yên tĩnh là một niềm phúc lạc
lớn đối với sự
sống, đó là niềm vui không ai có thể đánh đổi được:
“Hạnh phúc tối thượng là sự
yên tĩnh của tâm hồn” (Kinh Pháp Cú). Những ai đã từng kinh qua những khổ đau, và cảm
nhận được niềm vui sống
với thiên nhiên đều không thể phủ nhận
sự thực này.
Sự tươi mát tĩnh tại của thiên nhiên sẽ
xoa dịu những nỗi đau trong tâm hồn
của con người. Nếu trong cuộc
đời khi nào ta cảm thấy dao động,
bất an thì hãy tìm về với thiên nhiên. Thiên nhiên là người bạn trung thành, không bao giờ phản bội
chúng ta, là người mẹ hiền luôn tưởng
nhớ và sẵn sàng đón nhận chúng ta. Đừng tưởng rằng
ta chẳng còn ai. Thi sĩ
Lamartine nói: “Nhưng này
bạn, dù bạn có khổ đau thì thiên nhiên vẫn còn đó, thiên nhiên vẫn yêu bạn,
bạn nên lặn hụp vào trong lòng của
thiên nhiên vì thiên nhiên đang mở
hai cánh tay để chào đón
bạn. Trong khi đối với bạn,
tất cả đều thay đổi,
thì thiên nhiên vẫn là
thiên nhiên cũ, không bao giờ
phản bội bạn, sẵn
sàng mở hai cánh tay đón
nhận bạn. Mặt trời
hôm nay mọc lên, chiếu xuống cuộc
đời bạn vẫn là mặt
trời cũ, bạn đừng quên.”
Tình yêu đối
với thiên nhiên giúp
chúng ta dễ tìm thấy sự cảm
thông với cái Đẹp, cái Lành và cái Chân thực trong cuộc sống. Một
bông hoa bên hàng dậu, một áng mây trôi lững lờ, một
dòng nước trong xanh…, tất cả đang hiện
hữu rất tươi đẹp
và nó như thể hiện được
một cái gì đó thuộc về một
thực tại tuyệt diệu,
ly ngôn. Thực tại ấy chỉ
có thể miêu tả bằng sự
cảm nhận trong đại thể mà không thể
phân tích bằng khái niệm phân biệt trong một thoáng lặng nhìn.
“Đứng
yên bên hàng dậu
Em mỉm
nụ nhiệm mầu
Lặng
nhìn em kinh ngạc
Vừa
thoáng nghe em hát
Lời ca
em thiên thâu
Ta sụp
lạy cúi đầu.”
(Bài thơ
“Hoa Thược Dược” của Trụ
Vũ)
Hay một
cái nhìn tuyệt vời trọn vẹn
cả thân tâm. Một cái nhìn biến tan cả chủ
thể lẫn đối tượng,
một sự nhận thức
mà người quan sát đang trở thành một với bông hoa, là bông hoa, để đón nhận
ánh mặt trời, hô hấp không khí và tiếp
thụ các khoáng chất từ lòng đất
của chính một bông hoa. Có một nụ mỉm
cười với tất cả
sự hiện hữu mầu
nhiệm trong giờ phút đó và cũng có một nụ cười
với tất cả lòng từ
bi khi trông thấy một thiếu nữ
vì không thấy rõ được bản chất
tuyệt diệu của hoa cỏ
giữa đất trời, đã bẻ
ngắt những cành hoa cắm đầy đầu
khi ra về từ vườn hoa:
“Cười
kẻ không hay hoa huyền diệu
Khi về
mái tóc dắt đầy hoa”
(Hai câu cuối
trong bài thơ “Hoa Cúc” của thiền sư
Huyền Quang đời Trần)
Nếu được một lần
đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, ta mới thấy cái bản
ngã của con người mới nhỏ
bé làm sao!. Những tính
toán hơn thua, giận hờn hôm qua hay ban nãy đây thật vô lý. Thiên nhiên khoáng đạt thế, đời
người được bao lâu. Nếu tưởng tượng
một mình lạc lõng giữa núi rừng hoang sơ
không một bóng người, ta sẽ cảm giác như
thế nào nhỉ? Hẳn ta cảm
thấy cần tình thương yêu biết mấy, ta thèm nghe tiếng
nói và nhìn khuôn mặt của con người biết mấy,
những người đã đang cùng ta sống hàng ngày mà bấy lâu ta cứ coi như những
cái bóng ấy. Thì ra, sống trong thế giới vật
chất, sự xa hoa giàu sang, địa vị danh vọng,
ta cứ tưởng mình là một cái gì quan trọng, nhưng nếu
không có cộng đồng con người thì phải chăng ta chỉ là một sinh vật
không biết suy nghĩ. Đó
là bài học đầu tiên mà mẹ thiên nhiên muốn dạy chúng ta để
làm người và biết sống với
con người.
Cánh chim rừng
sải cánh giữa bầu trời,
con cá lội dưới sông sâu, gió thổi thông reo, tất cả như
đang nói rằng có cái gì
đó là tự do, là hạnh phúc. Tất cả mọi
loài đều khao khát tự do. Con người muốn có hạnh
phúc cũng phải có tự do. Tự do là không bị
kéo lôi của định mệnh và dục
vọng, không bị cầm tù trong bản
ngã.“Không có hạnh phúc
chân chính nào mà không được
thiết lập trên tự do. Nếu không có tự
do thì thật sự không có hạnh phúc. Tự do chỉ có được
khi mình chống lại được với
định mệnh.” – Nhất Hạnh.
Thiên nhiên là một
cuốn sách mà trong đó người ta có thể đọc hoài không biết
chán, càng đọc lại càng khám phá ra được nhiều điều
bí ẩn. Quả vậy, thiên nhiên luôn luôn rất thiệt
thà và chung thủy, có sự tranh sống diễn ra giữa
loài này với loài khác,
nhưng không có sự lừa dối
phản trắc. Nếu có kẻ
nào đến với thiên nhiên mà bị hại là tại
chưa đọc hết, chưa
hiểu hết, chứ thiên nhiên không bao giờ phản
bội. Nhưng con người, với quan niệm
hạnh phúc vị kỷ, chỉ
muốn rằng tất cả
những gì họ yêu thích thì nó phải thuộc về
sở hữu của mình. Họ
chỉ muốn đóng khung, làm lồng cho những đối tượng
mình yêu mến. Yêu nhau,
người ta thường xây ngục thất cho nhau.
Khi Rác Không Thể
Biến Thành Hoa
Rừng
cây xanh bạt ngàn kia, là
buồng phổi của cơ
thể trái đất, là nhà máy khổng lồ điều
hòa nhiệt độ, độ ẩm,
duy trì lượng nước ngầm ổn
định, cũng như cung cấp dưỡng
khí cho muôn loài sinh vật.
Sự tách biệt môi trường với con người
đã làm cho con người trở thành kẻ đương đầu
với thiên nhiên. Con người là một bộ
phận của môi sinh, không thể tách rời khỏi
mạng lưới của môi sinh được.
Đó là quá trình trao đổi
sống động. Một tờ
lá rơi xuống đất là để
trở lại nuôi dưỡng cây xanh, sinh vật ăn cây cỏ và thở dưỡng
khí từ cây xanh thải ra và đồng thời cũng thở
ra thán khí và các chất hữu cơ, vô cơ
khác cần thiết cho quá trình quang hợp của cây xanh. Đó là một
chuỗi biến đổi sinh học,
đồ phế thải của
bộ phận này trở thành đồ nuôi dưỡng của
bộ phận kia. Rốt cuộc trong thiên nhiên không có gì là đồ phế thải.
Rác có thể biến đổi thành hoa và hoa có thể biến
đổi thành rác để rồi lại
biến thành hoa, không có
cái gì mất đi mà chỉ là một sự
chuyển biến thành dạng này hay dạng khác.
“Lá vàng rụng
xuống
Cho đất
thêm màu
Có mất
đi đâu
Chồi
lên lộc biếc.”
(Xuân Quỳnh)
Thế nhưng trong đời sống hiện
đại, với chủ trương
kinh tế kỹ nghệ, các tổ
chức xã hội là những mạng
lưới áp đặt lên cá nhân những tiêu chuẩn tiêu thụ tối đa và hưởng
thụ một cách ích kỷ. Do đó thúc đẩy một tốc
lực sản xuất tối
đa, tài nguyên được biến chuyển thành sản
phẩm cộng với một
số lượng đồ phế
thải khổng lồ. Sản
phẩm đem tiêu thụ lại tạo
ra thêm một số lượng đồ
phế thải nữa. Thiên nhiên cứ
như thế càng ngày càng trở nên chật chội
với những thứ phế
thải khó tiêu này, ô nhiễm nặng nề
và sự sống trên trái đất bị đe dọa.
Nhận
thức rõ điều này chúng ta thấy có một trách nhiệm
chung trong việc bảo vệ sự
trong sạch của môi trường tự nhiên. Nhìn những
núi rác chất ngất ở ngoại
ô thành phố với mùi xú uế cực kỳ, và là nơi
trú ẩn của vô số những
vi khuẩn có thể nguy hại đến
sức khỏe của con người,
chúng ta nghĩ gì? Nhìn những
cánh rừng bị đốn ngả,
bị đốt cháy trơ trụi, những
dòng sông ô nhiễm kia,
chúng ta nghĩ gì? Có thấy
xót xa? Nhưng chúng ta
cũng chớ vội đổ lỗi
cho những người đốn rừng
và những người làm ô nhiễm không khí và nước sông. Tất cả chúng ta đều
đã và đang cùng nhau tạo
nên tình trạng đó. Muốn biết, hãy nhìn cách chúng ta tiêu thụ. Đời sống
với những nhu cầu tiêu thụ đi kèm với những chất
thải khó tiêu, khó xử lý sạch đối
với môi trường (như bao bì, chai, nhựa,
chất plastic…). Phải chăng chính chúng ta “vừa là cây rừng đang bị
đốn ngả, là nước sông và không khí đang bị ô nhiễm mà cũng là người
đốn rừng và làm ô nhiễm không khí và nước sông?”(Thiền môn nhật tụng 2000, trích thực
tập ba cái lạy, Thích Nhất Hạnh)
Chiến
tranh cũng là một trong
những nguyên nhân chính yếu của sự
ô nhiễm môi trường. Chúng ta gây bạo động đối
với con người và cũng gây bạo lực đối
với thiên nhiên. Khi những hận thù, tham đắm,
bạo động trong mỗi con người chưa lắng
xuống, thì chiến tranh và chết chóc chưa thể chấm
dứt. Mỗi sự giận
hờn, trách móc, thù địch đều có thể
tương tác và gây nên bầu không khí chiến tranh trên thế giới. Nhìn lại
thì từ sự chuẩn bị
chiến tranh, thử nghiệm vũ khí, và đưa
vào chiến tranh thực sự đã hao tốn
không biết bao nhiêu là
tài nguyên và nhân mạng
và còn để lại những di hại
không lường cho môi sinh
và con người. Phải chăng chúng ta vừa là kẻ phải
gánh chịu những tai ương của
chiến tranh và đồng thời cũng là người
gây ra chiến tranh; vừa là kẻ
bị tàn phế, tật nguyền
của bom đạn, vừa là kẻ
chế tạo bom đạn để
bán cho các bên tham chiến,
cổ vũ chiến tranh?
HÀN GẮN
VẾT THƯƠNG LÒNG
Hãy tìm về
với thiên nhiên để tâm trí được cân bằng trở lại,
để làm lắng nhẹ những
khổ đau, mà chính những khổ đau này đã dẫn
đến những bế tắc
và nổi loạn. Về với
thiên nhiên không phải là
sự trốn chạy khổ
đau mà chính là để có cơ hội nhìn nhận
cho rõ mặt mũi của khổ đau. Thói quen của
chúng ta là trốn chạy khổ đau và muốn
khỏa lấp chúng bằng những thú tiêu khiển
rẻ tiền và những cảm
giác độc hại. Khỏa lấp
để tìm một chút an ninh, nhưng càng chạy trốn, càng khỏa
lấp, thì những nỗi bất
an lại càng lớn mạnh thêm.
Bước
thiền hành, hơi thở chan hòa giữa
đất trời rộng mở
sẽ giúp chúng ta chế tác năng lượng của sự
bình tĩnh, tháo gỡ những mối lo âu trong tâm hồn.
Ta sẽ tìm gặp lại sự
hồn nhiên, tươi vui của trẻ thơ
mà ta đã từng trải qua, và rồi vì nghiệp lực, chúng ta đã bị
thúc đẩy để phải xa rời
chốn bình yên mà lưu lạc trong đời
với những toan tính, lo âu. Con người đã bị cuốn
đi bởi guồng quay của dục vọng,
của những tập khí. Chúng ta đã đánh mất sự
dịu dàng nhạy cảm của
tâm hồn, trở thành những người lớn
nhưng đồng thời cũng trở
nên chai sạn. Chai sạn đến vô cảm
với những gì mới mẽ,
tuyệt đẹp đang diễn ra chung quanh. Tìm lại dấu ấn
nguyên sơ của mình là trở lại với
tâm hồn cởi mở và hồn
nhiên của trẻ thơ, tuy vẫn
nhìn thấy thực tế một
cách minh bạch và không hề có ảo tưởng.
Một Thiền sư, “họ
ban đầu là trẻ thơ, rồi
trưởng thành, rồi quay lại là trẻ thơ
mà không hề đánh mất tính hiện thực của
người trưởng thành.” - D. T. Suzuki.
Mỗi bước chân đi là một dấu ấn
in trên mặt đất của thực
tại (bộ bộ đạp
trước thật địa). Mỗi
bước chân là một bước trở
về với thiên nhiên, hòa với cỏ cây và đất
đá và đó cũng là lúc trở
về lại với chính mình. Hãy lắng
nghe tiếng gió thổi trên những tàng cây, tiếng con chim hót, tiếng dòng nước chảy dưới
chân đồi, tia nắng lọt qua những
khe lá xanh như ngọc, con chuồn chuồn chập
chờn trước gió... Đó là những âm thanh, những hình ảnh rất quen thuộc.
Mỗi phút mỗi giây tiếp xúc với thiên nhiên, ta sẽ
được tiếp thêm năng lượng. Năng lượng của sự
bình an, của chánh niệm. Đó là những bước chân đi trên Tịnh
Độ. Khi chánh niệm đã dồi dào thì cũng chỉ
là những hàng cây cũ,
cũng lối mòn xưa, cũng những tiếng chim, tiếng
dế trùng ca hát ấy mà tất cả
đều hiện ra đẹp đẽ
lạ lùng khác nào những hàng cây quý, và những tiếng chim kỳ diệu
của cõi Cực lạc.
HÀN GẮN
VẾT THƯƠNG ĐẤT MẸ
Đất mẹ chở che nâng đỡ,
nuôi dưỡng chúng ta nhưng đất mẹ
cũng cần sự quan tâm chăm sóc của chúng ta, những người con sinh ra từ
bà mẹ đất nhu hòa và đầy sức chịu
đựng. Hiểu được những
mối họa đối với
môi trường, cũng như những mối
họa mà con người đang phải đối đầu,
một thao thức cần thiết
là làm sao để có thể góp phần bảo
vệ thiên nhiên. Đó là một thiện chí tốt,
nhưng đôi khi càng cố gắng làm một
điều gì, chúng ta lại càng làm cho tình trạng thêm hỗn độn. Ấy
là bởi chúng ta chưa thấy rõ cái nguyên nhân sâu xa của tình trạng. Ấy là bởi
trong tâm chúng ta chưa
có sự bình yên. Tâm chưa bình thì thế giới vẫn
chưa yên. Muốn đem đến sự
bình yên cho thiên nhiên, trả
lại sự lành mạnh cho môi trường,
thì nhất định ta phải thiết lập
cho được trạng thái an bình ngay trong đời sống nội
tâm mình. “Không có con đường
đẫn đến bình yên, bình yên chính là
con đường” (there is no
way to the Peace, Peace is the way). Như
vậy không có gì khác hơn là trong mỗi phút giây phải biết sống
an bình. Chỉ cần dừng lại
và tiếp xúc với thiên nhiên, với trái đất, tự khắc
chúng ta sẽ biết làm gì.
Khi lấy
nước để rửa tay, hãy tự
hỏi, nước này từ đâu tới? Câu hỏi
đó sẽ giúp ta thấy rõ sự liên hệ
giữa mình với thiên nhiên. Ta thấy mình thật là may mắn để có được
nguồn nước sạch. Nếu
mở mắt ra, nếu lắng
tai nghe, ta sẽ thấy trên thế giới không phải
ai cũng có đủ nguồn nước sạch
để dùng. Diện tích rừng cây trên toàn cầu đã bị thu hẹp
rất nhiều, không đủ để giữ
ẩm cho không khí và không
dự trữ được các mạch
nước ngầm cần thiết
cho sinh hoạt của con người. Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghiệp
hiện đại, đã làm cho nguồn nước trong các sông ngòi và các mạch nước ngầm
trở nên ô nhiễm, gây nên tình trạng thiếu nước
trầm trọng trên toàn thế giới. Và rồi hãy nghĩ đến người khơi
nguồn cho giếng nước thơm
trong:
“Nước
từ nguồn suối cao
Nước từ lòng đất sâu
Nước mầu nhiệm tuôn chảy
Ơn nước luôn tràn đầy.”
(Thích Nhất
Hạnh: Thi kệ nhật dụng)
Người
biết ơn là người hạnh
phúc nhất trên đời. Phật dạy:
“Biết khiêm cung lễ độ, tri túc và biết
ơn, không bỏ dịp học
đạo, là phước đức lớn
nhất”. Vâng, tri túc và
biết ơn. Tri túc là dừng lại tình trạng
tiêu thụ quá đáng của chúng ta, biết trân quý và hoan hỷ với những
gì mình đã có và biết ơn đời đã hiến
tặng cho chúng ta những điều kiện
tốt để có được một
đời sống hạnh phúc ngay ở
đây và bây giờ. Nhìn lại đi, chúng ta không thiếu điều kiện
nào để có thể sống một
đời sống hạnh phúc. Chúng ta may mắn được
nước sạch để sử
dụng hàng ngày và chúng
ta không quên cầu mong
cho người khác cũng được đầy đủ
nước như thế và có ý thức
bảo vệ môi sinh như thế. Chúng ta lại
thầm nguyện:
“Vốc nước để rửa
tay
Xin nguyện
cho mọi người
Có đôi bàn tay sạch
Gìn giữ
trái đất này.”
(Thích Nhất
Hạnh: Thi kệ nhật dụng)
Đúng rồi,
trái đất cần có những đôi bàn tay cần
mẫn, có hiểu biết, có thương
yêu để chăm sóc và gìn giữ. Bàn tay không sạch tức là những
bàn tay còn có nhiều tham
vọng ích kỷ, những hận
thù nhiễm ô. Bàn tay ấy nhúng vào chuyện gì cũng chỉ đem lại sự
ô nhiễm và tai hại. Nhưng tất
cả đều có thể rửa
sạch bằng thứ nước
của chánh niệm và của lòng biết
ơn. Lòng biết ơn sẽ
thôi thúc chúng ta quay về
với lối sống tỉnh
thức để có thể nhìn sâu và thấy
rõ sự liên quan tương hỗ giữa
cá nhân và cộng đồng, mọi loài chúng sanh và nhiên giới.
Khi nâng bát cơm
hay chén trà lên cần phải có ý thức để thấy
cho được sự có mặt của
vũ trụ đang cùng có mặt để nâng đỡ
sự sống chúng ta.
“Tay nâng bát cơm
đầy
Tôi thấy
cả vũ trụ
Đang dang tay góp mặt
Để
cùng nuôi dưỡng tôi”
(Thích Nhất
Hạnh: Thi kệ nhật dụng)
Khi tiêu dùng những
thực phẩm cũng phải học cách lựa
chọn những thứ dễ
dàng chuyển hóa trở lại đối
với cơ thể và môi trường.
Hạn chế mua những thứ
phải dùng đến những chai, hộp
và bao bì làm bằng chất ni-lon … nói chung nên chọn phương pháp sinh học
trong tiêu thụ để bảo vệ
bản thân và môi trường. Tất cả
những cái đó quả thật là nhỏ
nhặt, nhưng lại rất
căn bản để học, bài học
đầu tiên về bảo vệ
môi trường. Giọt nước nhỏ
nhưng sẽ làm đầy thùng, đóng góp chỉ là cá nhân nhưng
nhiều người sẽ tạo
ra một ảnh hưởng lớn.
Về với thiên nhiên là để cảm nhận
được tình yêu của thiên nhiên, sự bao dung và độ lượng. Đến
để học cách sống chan hoà với thiên nhiên, lập lại sự
bình yên của tâm hồn, làm lắng dịu những
nỗi đau của chính mình. Đến với thiên nhiên là để
học cách nhìn thế giới trong nhiều
mối tương quan, để thấy mình là vô ngã và sống tích cực
hơn. Sự hiện hữu
của mình chỉ là Không, không có tự ngã riêng biệt (chân không), mà cũng đồng thời là một
hiện hữu nhiệm mầu
(diệu hữu) với vô số
những hiện hữu khác. Tất
cả đều đang có mặt để cho chúng ta có mặt.
Cho nên khi đến đừng để lại
một dấu tích nào đáng tiếc cho mọi sự
hiện hữu, cho môi sinh. Đến là sự chuẩn
bị cho ngày về, và cần phải
có sự chuẩn bị để
ngày về, cũng đừng bị vướng
kẹt vào một chấp trước
nào cho sự đến và đi. Đến và đi thong dong tự tại như
gió nội, trăng ngàn. Xin
mượn hai câu thơ sau đây của Tuệ Nguyên để
nói lên tâm nguyện này:
“Đi không lưu
một dấu hài
Ngày về
cũng vượt ra ngoài có
không".
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét