(Trích nhật ký ngày xuân)
Chuyên Nghiêm
Về lại chùa quê, thanh vắng đến nỗi không thích đi đâu nữa. Ngoài đường, hoa mai bắt đầu chớm vàng. Tết đến rồi đó. Chùa tôi cũng đang chuẩn bị cho Tết. Không tất bật. Không vội vã. Thấy việc cần làm thì làm. Ấy thế mà có việc làm hoài. Tết đến bên hông chùa nên người ở chùa cũng phải lo mà đón. Chủ yếu là dọn dẹp, quét tước, trang trí. Sáng nay sư cô ra chợ đem về bao nhiêu là hoa. Chậu lớn, chậu bé. Hoa giấy, hoa hồng, nguyệt quế, cẩm tú cầu, ngũ sắc, nhất chi mai. Vườn chùa sáng sủa, tươi mát hơn. Từngày hoa về chùa thì mấy bạn bướm cũng hay ghé thăm. Chùa quê nên tri túc luôn là điều được nhắc nhở. Số hoa này với chức năng là làm đẹp cho Tết và để làm quà Tết. Mua về sớm để chăm cho bén rễ, nảy cành trước rồi mới đem đi tặng.
Cũng là tri túc. Sư cô gợi ý cho mấy chị em tôi làm chậu để trồng hoa thay vì ra chợ mua chậu tốn nhiều tiền. Tôi may mắn được dự phần vào công trình “chậu“ này. Tôi có cơ hội học thêm nghề mới. Khi bé, tôi chỉ được làm cu ly cho ba và anh hai làm hồ. Tôi chưa hề biết cần bao nhiêu cát, bao nhiêu xi măng, bao nhiêu nước là vừa phải. Tôi chưa biết thếnào là hồ già, hồ non. Lúc đó ba và anh có bày nhưng chỉ hai phút sau là quên mất. Vì còn nhỏ nên thích chạy nhảy long nhong chứ không thích để ý tới chuyện người lớn. Tôi nghĩ chuyện pha hồ là chuyện của người lớn. Ba và anh bảo làm gì thì làm nấy. Bây giờ đi tu mới thật sự đụng tới hồ. Chưa biết thì tập làm cho biết thôi, hơn nữa tôi cùng làm với chị Ánh nữa mà. Lo chi! Chị Ánh là chị tập sự mới xin vào tu. Trước đó chị từng công tác, đấu thầu cho những công trình của khu công nghiệp Dung Quất (Quảng Ngãi). Chị làm về xây dựng, thế nào chị cũng biết pha hồ, ít ra cũng biết cầm cái bay, biết cách pha, biết cách trét. Tôi rất tin tưởng ở tay nghề của chị. Vì vậy mà mọi thứ khởi đầu một cách êm đềm, không lo lắng, không tư lự. Khi bắt tay vào mới biết, té ra chị cũng tay ngang như tôi. Chị cũng chưa từng làm cái công việc thiêng liêng này mà chỉ thấy thôi. “Thôi cứlàm, biết bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, vừa làm vừa học“- hai chị em tôi giao ước, an ủi nhau.
Khâu đầu tiên là chuẩn bị vật liệu như: khuôn, bay, xô múc nước, phần này chị Ánh nhận trách nhiệm. Trong kho có hai cái bay của tri rau, chúng tôi mượn tạm. Dự tính làm mười cái chậu thì cần một bao xi măng, khoảng một trăm ký lô cát xây. Xi măng có sẵn trong kho chỉthiếu cát thôi. Tôi đi mua cát. Trên đường ra chợ tôi ghé chùa Ngoài cúng dường rau tiện thể tôi hỏi Sư bác Nhã chỗ bán cát.
“Có chứ, mà con tính làm gì vậy?“- Bác hỏi
“Dạ, tụi con muốn mua một ít để về đúc chậu trồng hoa Tết“
“Con cần bao nhiêu?“
“Cỡ một trăm ký ạ“
“Thôi đừng đi mua tốn tiền. Ra sau chùa, Bác xúc cho một ít về xài“
Thấy Bác hoan hỷ cho hai bao cát nên tôi cũng “phụng mệnh“ hoan hỷ nhận. Bác còn chỉ chổ cho chúng tôi xúc cát tựnhiên về dùng. Đó là con đường nhỏ gần chùa chúng tôi đang ở. Thêm một lần nữa may mắn, đỡ tốn kém. Tôi chở hai bao cát nặng trịch về. Tôi hí hửng như trẻ nhỏ được quà, đi khoe với Sư cô.
Trong khi tôi đi tìm cát, chị Ánh ởnhà cũng tìm đủ dụng cụ và chọn địa bàn làm việc rồi. Dưới bóng mát gốc mít. Chỉcần đợi có cát là công trình sẽ được khởi công tạo dựng. Dụng cụ làm việc cũng từ cây nhà lá vườn. Đi một vòng quanh chùa thấy mấy cái sọt tre đựng hoa nằm chổng chơ ngoài hố rác hữu cơ, chị lượm vô. Xuống nhà bếp đang xông khói mịt mù, chịnhặt nhạnh mấy thùng giấy cạc tông. Chị Ánh thông minh ghê.
“Mấy chú thợ hồ chuyên nghiệp thấy mình làm chắc họ sẽ miễn bàn luôn á!“. Chúng tôi vừa trộn hồ vừa tủm tỉm với nhau.
Làm khuôn đúc chậu. Sọt tre làm cái khung. Thùng giấy xé ra xếp vào đó để lấp lại những lỗ trống. Hồ đã trộn xong tới khâu nắn chậu. Nắn nắn, trét trét. Loay hoay cả ba mươi phút mới nắn xong cái một cái chậu. Mọi thứ có thể đều được tận dụng cho công trình đúc chậu kể cả ngón tay út, với nhiệm vụ đặc biệt là xoáy xoáy, khoét lỗ thoát nước cho chậu.
Boong, boong, chuông thỉnh báo giờ ăn trưa, có bốn cái chậu được thành hình thành dáng. Mấy cái chậu này nó èo uột, ẹoẹo qua một bên khi tôi thả tay ra nhưng tôi vẫn gởi hi vọng là nó sẽ cứng cáp sau khi khô. Gặp lúc sư cô U.N đi làm củi về, thấy vui mắt, sư cô ghé vô thăm. Sẵn lòng, cởi mở, sư cô bày thêm cách làm chậu của ba sư cô mà sư cô từng áp dụng thành công. Nhìn nhau hiểu ý, chúng tôi sẽ thử cách này trong chiều nay.
Chiều nay thiếu cát, chúng tôi đẩy xe rùa ra đường xe bò mà Sư Bác chỉ để xúc thêm cát. Chuyện đi đẩy cát cũng ly kỳ,hồi hộp vì chúng tôi chưa hề biết đường xe bò là đường nào. Tình cờ, Tý- chú bé hàng xóm đi ngang.
“Tý ơi, em có biết đường xe bò ở đâu không, chỉ cho chị với. Nghe nói chỗ đó có cát hả?“
“Là đường mà các sư cô sáng nay đi lấy củi đó. Dạ, có cát, mà ít lắm sư cô ơi“- Tý hồn nhiên đáp
Theo lời chỉ dẫn này, tôi và sư cô U.Nđể xẻng, đồ hốt rác lên xe rùa đẩy đi tìm cát. Cảm giác giống như truy tìm kho báu vậy. Thấy vui vui, thú vị, bí hiểm. Để cho chắc chắn, chúng tôi hỏi cô hàng xóm đang đốt lá khô thì cô cũng chỉ như Tý vừa nói. Yên tâm hơn, chúng tôi tiếp tục đi. Đoạn đường này vắng vẻ, cây cối lại um tùm, ít người lại qua, theo quán tính tự vệ, tôi dòm trước, ngó sau, vừa đẩy xe vừa niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm. Vừa niệm vừa tự dặn dò “mình đang làm việc thiện, cầu cho đừng có gì xui xẻo xảy đến, lấy được bao nhiêu cát thì tùy hỷ“. Kiểu cầu nguyện này giống thuở bé lỡ tay làm lạc mất cái chi đó, sợ má đánh đòn, tôi vừa tìm vừa lẩm nhẩm “con van vái ông Tà ông Địa phù hộ con tìm ra rồi con sẽ cúng ông nải chuối“
Lấy xẻng quét quét vài đường.
“Chổ này có đất nhiều quá“- sư cô lắcđầu.
“Mình đi tới trước đi sư cô“- tôi thương lượng với hi vọng.
“Chỗ này được á!“- sư cô mừng ra mặt.
“Hay quá, trúng chỗ rồi đó sư cô. Mầu nhiệm chưa, cát ở đâu tự nhiên dồn về mấy ổ voi này cho mình vậy ta?!“- sư cô chưa hết mừng.
“Mình xúc đầy một xe nha sư cô“
“Em biết đẩy xe rùa không đó?“
“Dạ biết chứ! Cách đây mười năm con đã từng đẩy xe cho mấy chú thợ hồ xây nhà cho ba má con“
“Mô Phật á!“- Sư cô cười trước câu nói nửa đùa nửa thật của tôi.
Như thợ xúc cát chuyên nghiệp, chẳng mấy chốc, xe cát đã đầy. Niềm vui luôn có mặt, những điều bất ngờ cứ lâu lâu xuất hiện.
Chiều nay tôi làm thợ phụ và học nghề ởsư cô. Vừa làm, sư cô vừa bày tôi cách pha trộn, cách trét hồ. Bao giờ cũng vậy, giai đoạn đầu hơi lâu; sau đó quen tay rồi mới nhuần nhuyễn. Sau vài cái chậu hợp tác với sư cô để được huấn luyện, đến cái chậu thứ năm, chúng tôi “tự lập“. Sưcô phân công mỗi đứa một khâu, tự làm sản phẩm của mình cho công trình mau được“khánh thành“, kịp mang đi cúng dường.
Tôi đắp ụ, chị Ánh trộn hồ. Các khâu này đều dưới sự “giám sát công trình“ của sư cô. Hình dáng, mẫu mà là tùy chúng tôi chọn, sư cô ngắm nghía rồi gọt giũa cho tròn trịa, xinh đẹp thêm. Sư cô vừa làm vừa để mắt ngó những sản phẩm đầu tay theo phương pháp mới này của chúng tôi. Tôi thấy như mình được trở về thế giới tuổi thơ của mình. Ngày bé, buổi trưa tôi hay trốn ba má chạy xuống bờsông móc đất bùn nặn hình con này con kia. Chơi một mình thì không vui, lần nàođi tôi cũng rủ anh sáu cùng đi. Anh sáu lớn hơn tôi hai tuổi, các anh chị khác của tôi đều lớn hết rồi chỉ có anh sáu là còn nhỏ nên còn chơi với tôi. Hai anh em chơi thân lắm. Chúng tôi thường nặn những cái gì mình thường thấy mỗi ngày như con trâu, con heo, con cò, cái cày, cái lu nước, cái nồi, cái chảo, đủ thứhết. Khổ nỗi anh sáu khéo tay hơn tôi mà lại làm nhanh nữa chứ. Con trâu của tôi nặn xong rồi bao giờ cũng mập hơn, méo mó, khập khiễng hơn con trâu của anh. Anh hay chọc quê tôi “con trâu của út bị xi cà que rồi kìa“- “sửa lại cho em đi“ và bao giờ tôi cũng năn nỉ anh như vậy. Bây giờ anh lớn rồi, chắc anh quên mấy cái chuyện con nít này rồi. Hồi nhỏ vọc đất bùn, lớn lên vô chùa vọc cát.
“Ê làm gì vậy?“- câu hỏi của sư cô làm tôi trở về với cái chậu mình đang làm, không còn mơ màng thả hồn theo cánh diều tuổi thơ. Mới có trôi về quá khứ có mấy chục giây mà cả đống chuyện đi lên trong đầu như một thước phim tư liệu lịch sử vậy.
Thấy chúng tôi loay hoay, chú Tư hàng xóm cũng tò mò chạy qua chơi. Ngồi nhìn chúng tôi làm một hồi lâu, chú cũng bắt tay vọc cát, vọc hồ.
Trời sẩm tối rồi. Ai da! Muỗi chích ngứa quá! Mấy con muỗi “xứ Vedan“ này chích ngứa hơn cả tụi muỗi bự con ở Thái nữa.
“Đắp xong cái này là được sáu chậu cái rồi mình nghỉ nha! Có gì mai mình làm tiếp. Đi tắm giặt chuẩn bị ngồi thiền tụng kinh tối“. Sư cô U.N nói với chúng tôi.
Sư cô bấm bấm tay rồi cười giòn giã . “Vui chưa tề, bữa nay là mồng tám tháng chạp, kỷ niệm Phật thành đạo. Buổi sáng mình làm lễ truyền năm giới cho các em tập sự, chiều nay mình đúc chậu làm quà Tết. Một ngày mà có tới ba cái kỷ niệm luôn“
Tôi với láy cái que củi khô vẽ vời, làm đẹp cho cái chậu. Phải tranh thủ lúc chậu chưa khô mà làm điệu cho nó. Sưcô P.N cũng đi ra xem chúng tôi làm ăn ra sao. Sư cô khen “Sao hay quá vậy, chỉcó cát với xi măng, nước lạnh mà làm ra được biết bao nhiêu là chậu?“. Các chịem “tiều phu“ đi lấy củi về, thấy vui vui cũng ghé vô chơi. Chúng tôi đùa là sẽxin lập ra tri chậu làm việc thời vụ, chủ yếu là mấy ngày cuối năm. Nếu ngày thường ai có đặt hàng thì cũng nhận luôn. Nói cho vui vậy chứ có ai đặt hàng ngoài nhà mình đâu.
Trong khi những thợ đúc chậu không chuyên làm việc thì sư cô vận động các chị em vẽ vời, làm thơ, làm thiệp chúc Tết. Lòng thơm thảo của con cháu là đây. Sư cô đã dạy chúng tôi bài học không lời. Sống không chỉ biết có riêng mình mà còn nhìn lên ngó xuống. “Quà này một nén mà công một đồng“, sư cô U.N nhẩm tính “Gía mỗi cái chậu có mười tới hai mươi ngànđồng thưa sư cô! Quá rẻ so với người ta bán ngoài chợ mà còn chắc chắn, dày cộm nữa“
Mọi thứ cũng hoàn tất sau ba ngày. Không biết người nhận quà có hạnh phúc không chứ tôi thấy cái vụ đắp đắp, trét trét này cho tôi nhiều cảm hứng và niềm vui
.......
Mồng tám Tết rồi sao? Nhanh quá, một năm sắp hết rồi đó. Nhìn ra, bao nhiêu lá khô trước sân và trong vườn được dọn dẹp sạch sẽ. Tôi nghe thoang thoảng quanh chùa cái mùi rất quen thuộc. Mùi của những ngày cuối năm. Mùi của Tết.
Tết Long Thành 2010
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét