Tác giả: Nguyễn Tường
Bách
Một ngày nọ tại sân bay
quốc tế Bangkok, trong khu vực nghỉ ngơi của doanh nhân, kẻ viết bài này bắt gặp
một người lạ. Với khuôn mặt nghiêm túc, áo quần tươm tất của một giám đốc công
trình, ông vội vã xách cặp bước vào phòng. Sau khi uống một ly nước, ông xếp bằng
tĩnh tọa trong một góc phòng. Chỉ năm bảy phút sau, thân ông giãn ra, tâm ông
dường như tươi mới, nét mặt phảng phất một sự bình an nội tại. Một điều ít thấy
trong giới doanh nhân.
Một điều ta cũng ít thấy
nhưng hoàn toàn ngược lại là có những người mắc bịnh luôn luôn nói lải nhải.
Chúng ta gọi họ là điên khùng. Nhưng hãy công bằng mà xét, tâm của chúng ta
cũng luôn luôn nói năng, luôn luôn có nhận định, đối thoại, suy xét, đánh
giá... trong tâm. Tâm của chúng ta cũng luôn luôn "lải nhải", chỉ khác
kẻ điên kia ở chỗ nó không phát ra tiếng. Ta hãy gọi tiếng nói trong tâm đó là
tâm ngôn.
Nếu khéo quan sát ta sẽ
thấy tâm ngôn hay "bàn" về quá khứ. Nó ưa lôi chuyện quá khứ ra để thẩm
định, khen chê. Thỉnh thoảng nó cũng suy tư về tương lai, từ chuyện ngày mai
mình đi chơi ở đâu đến chuyện thế kỷ sau điều gì sẽ xảy ra cho nhân loại. Nhưng
khi nói chuyện tương lai, tâm ngôn luôn luôn dựa trên kinh nghiệm của quá khứ,
từ những cái đã biết. Nói về chuyện tương lai như học hành cho con cái hay xây
dựng hạnh phúc cho chính mình, tâm ngôn phải lấy những chuẩn mực đã biết để hoạch
định.
Do đó, tâm ngôn luôn luôn
bị quá khứ ràng buộc. Vì lẽ đó Krishnamurti [1] nói tâm chúng ta "bị quá
khứ qui định". Govinda [2] ví tâm chúng ta như người ngồi ngược chiều hướng
xe chạy, anh ta chỉ thấy biết những gì đã trôi ra đằng sau. Hầu như lúc nào đầu
óc của chúng ta cũng bị quá khứ phủ kín.
Thế thì phải chăng tâm ta
lúc nào cũng đầy ngập tâm ngôn? Có lúc nào nào tâm ngôn ngưng bặt không? Có,
nhưng rất ngắn, ngắn đến mức chúng ta không nhận biết. Đó là một vài khoảnh khắc
trước cảnh đẹp của hoa lá và thiên nhiên, một thoáng chú tâm khi xúc chạm với sự
vật, một phút xuất thần trong sáng tạo nghệ thuật và khoa học, một giây tập
trung tỉnh giác trong hoạt động thể lực, một ý nghĩ hồn nhiên của trẻ con. Đó
là những lúc tâm trí còn tinh khôi, nó vận hành hồn nhiên và không bị qui định.
Nhưng nó lập tức bị tư tưởng lèo lái ngay vào những khuôn mẫu có sẵn, bị quá khứ
suy xét và theo đó mà phản ứng. Thường thì chúng ta không biết đến những khoảnh
khắc tinh khôi đó, nó chấm dứt quá nhanh. Ngoài ra nếu biết đến nó ta cũng chẳng
coi trọng, nhất là trong một thời đại mà ta xem ký ức và kinh nghiệm là cao quí
nhất, tôn thờ kiến thức của một triết gia hơn xa lòng hồn nhiên của tâm. Ý thức
bị tâm ngôn qui định chiếm hầu hết thời gian trong ngày của ta, kể cả trong giấc
ngủ. Ta thật sự yên nghỉ chỉ với giấc ngủ không mơ, những giấc mơ của chúng ta
đều là do tâm ngôn tiếp tục "lải nhải".
Dù vậy những chớp nhoáng
ngắn ngủi vắng bặt tâm ngôn là nguồn gốc của mọi năng lượng và sáng tạo của ta.
Những lúc đó tâm ta trở về nguồn cội để đong đầy năng lượng cho mình. Tâm ngôn
có thể có ích trong vài trường hợp của đời sống xã hội nhưng thường thì nó như
một bức tường ngăn che ánh sáng của thực tại. Những sáng tạo bất ngờ trong nghệ
thuật hay phát minh khoa học thường được xuất phát trong các tia chớp tuệ giác,
khi vắng bặt tiếng nói thầm trong não.
Nhưng tại sao ta có thể
chế ngự lời nói lải nhải mà không kiểm soát được tâm ngôn? Câu trả lời thông
thường là, chúng ta đã quá quen với sự đối thoại nội tâm. Nếu không có tâm
ngôn, hầu như con người của ta "trống rỗng". Nhưng nếu suy nghĩ kỹ,
ta sẽ thấy tâm ngôn là hoạt động của cái tôi trong ta. Cái tôi tồn tại nhờ nó
nói liên tục, khi thì to tiếng thành ngôn ngữ ra ngoài, khi thì nhỏ tiếng thành
tâm ngôn bên trong.
Cái tôi nhờ tâm ngôn mà
được khẳng định, mà tâm ngôn là quá khứ nên cái tôi là sản phẩm của quá khứ.
Cái tôi không bao giờ biết đến cái tinh khôi của thực tại, cái đang là đang hiện
rõ trước mắt, một thực tại không bao giờ lặp lại. Tâm ngôn và cái tôi dựa trên
nhau mà có. Nhưng khi một cái diệt thì cái kia cũng diệt. Những ai đã từng nếm
trải những chớp nhoáng vắng bặt tâm ngôn hẳn đã thấy trong đó không có ai cả,
chỉ có một cái biết đang vận hành.
Những khoảnh khắc đó thật
là tuyệt diệu và ta muốn lặp lại. Nhưng than ôi, ta sẽ thất bại. Cái ý muốn lặp
lại tuy thánh thiện đó chẳng qua cũng là do cái tôi nêu lên. Vì cái tôi không
chỉ ích kỷ và kiêu căng, đôi khi nó cũng biết hướng về đạo lý và giải thoát.
Nhưng hóm hỉnh thay, cái dục tưởng do cái tôi sinh ra đó chính là chướng ngại.
Đem cái tôi đi tìm thực tại cũng như vào cửa với cái sào cầm ngang.
Nếu gọi tình trạng ngưng
bặt tâm ngôn là Thiền thì cái khó xưa nay của Thiền là ngồi xuống gối thiền
nhưng đừng nên mong cầu gì cả. Vắng bặt người dụng công thì cái tinh khôi tự hiện,
như tiếng ồn dứt thì sự im lặng tự có, như dọn đồ đạc đi thì khoảng trống trong
phòng xuất hiện. Tâm đầy tiếng ồn thì thực tại bị che lấp. Tâm chúng ta khi thì
náo động, khi thì lặng lẽ. Vì thế mà trong kinh Phật có câu "tâm chúng
sinh qua lại cảnh Phật mà không tự biết".
Nhìn hoa nở mùa xuân ta
có thể hiểu một phần. Cây cũng miên mật hút chất bổ dưỡng trong lòng đất để
sinh hoa, nhưng cây tự nhiên không chút dụng công. Có lẽ ta cũng thế, để lòng lặng
yên, để tâm trống trải. Bặt tiếng nói thầm, cái tôi vắng bóng và chỉ có sự tỉnh
giác đang hiện tiền. Ngay lúc đó trong tâm "nở" ra một cái khác thường,
mới mẻ, tinh khôi, đơn lẻ, riêng biệt, không do quá khứ qui định.
Người ta có thể hỏi,
"cái khác thường" đó là cái gì. Hẳn nhiên đó là một điều rất sâu xa,
nhưng trước mắt ta có thể nói, nó là sự bình an nội tại, như trên mặt nhà doanh
nhân nọ đã phản chiếu.
[1] - Krishnamurti,
1895-1986, đạo sư người Ấn Độ
[2] - Govinda, 1898-1985,
tu sĩ Phật giáo người Đức
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét